ĐỨC THẦN TỔ VŨ HỒN

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

ĐỨC THẦN TỔ VŨ HỒN

Bài gửi  admin on Sat Sep 17, 2011 12:03 pm

[img][/img]
Đức thủy tổ họ Vũ – Võ Việt Nam tên húy là Hồn (gồm bên trái là bộ thủy, bên phải là chữ quân ghép thành) là người huyện Long Khuê, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Làm quan dưới thời Đường Kính Tông. Năm Bảo Lịch thứ nhất (825) thay Hàn Thiều làm Giao Châu Thứ Sử, đến đời Văn Tông, niên hiệu Hội Xương năm thứ 3 (843) được thăng An Nam Đô Hộ Sứ. Sau do muốn được phụng dưỡng mẹ già, giữ trọn đạo hiếu làm con ngài trả lại thẻ bài đưa thân mẫu về Việt Nam phụng dưỡng và ở lại sinh cơ lập nghiệp tại trang Khả Mộ, huyện Đường An, phủ Bình Giang, trấn Hải Dương, Việt Nam.
Truyền thuyết và các tài liệu lịch sử ghi chép về ngài như sau: Năm tân mùi, đời Đường Đức Tông đặt Triệu Xương làm Giao Châu Đô Hộ Sứ, lúc đó có một người ở phủ Thường Châu gia truyền y bát, nối được nghiệp nhà tên và Vũ Công Huy, đường làm quan của ông hiển đạt, vợ cả là Lưu Thị Phương đã ngoài lục tuần mà trong mộng chưa thấy hung bi, ngoài của chưa treo cung hồ thỉ (chưa có con trai). Cảnh muộn mằn khiến ông buồn rầu, không vui thường than rằng :”Vàng núi, thóc bể khinh như cỏ rác, con hiếu, cháu hiền quý như vàng ngọc”. Ông bèn tạ ơn triều đình trả lại thẻ bài xin hồi hương, vua Đường chuẩn y, lại cấp cho ông xe ngựa, châu báu. Ông về quê sống cảnh an nhàn cùng nơi thôn xóm. Ông vốn là người tinh thông phong thủy, thông hiểu phép địa lí chính tong. Trong lần du ngoạn sơn thủy sang trấn Nam Việt khi đến trang Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm, trấn Hải Dương thấy một khu đất sơn thủy bao quanh, long hổ cùng chầu lại. Ông lập tức quay về, lấy hài cốt của tổ tiên sang táng tại xứ Đống Già (tức Đống Rờm).
Thủa ấy, trang Mạn Nhuế có một người con gái tên là Nguyễn Thị Đức, tuổi vừa mười tám đôi mươi, tính hạnh đoan trang, ngôn dung uyển nhã, nếp nhà thi lễ truyền đã nhiều đời. Ông lấy làm bằng lòng mà yêu. Tự nói rằng :” Nàng mày ngài, má đào, lưng liễu, dáng vẻ như tiên thực là quốc sắc” Phúc địa sinh phúc nhân quả không sai.
Ông bèn mượn hồng điệp đưa mối cầu hôn. Nàng đến tuần cập kê, thật là thiên lí kì duyên. Hai người xe tơ kết tóc thành vợ chồng, từ đó ông tạm định cư tại quê vợ.
Được hơn một năm, có lần Nguyễn Thị Đức nằm mơ thấy người thần đem quả đào tiên, nàng nuốt lấy, sau đó tỉnh dậy nói chuyện với chồng. Ông nói rằng đó là điềm lành, vợ chồng đưa nhau về bắc quốc.
Từ đó Nguyễn Thị mang thai. Đến ngày mùng 8 tháng giêng, năm giáp thân, đêm hôm ấy có một đám mây vàng hình tròn như chiếc tán che phủ trước sân, rủ xuống tới đất. Nguyễn Thị sinh hạ một thần nhi, thiên tư tuấn tú, khí chất hiên ngang, mày vua Nghiêu, mắt vua Thuấn, lưng vua Vũ, vai vua Thang dáng vẻ thật là thường, bèn đặt tên con là Hồn.
Bảy tuổi Hồn đi học, sách vở xem qua một lượt là nhớ hết. Mười hai tuổi đã tinh thông văn chương, qua cửa Trình, Chu, học lực vượt hơn họ Âu (Âu Dương Tu), họ Tô (Tô Đông Pha), thi tài cùng ông Lí (Lí Bạch), ông Đỗ (Đỗ Phủ). Lại còn dốc chí cung tên hay đọc binh thư, tinh thông văn võ, rõ là bậc anh tài.
Năm mười sáu tuổi thi Đình, Vua Đường xét Hồn là bậc kì tài, học lực tinh thông, trên thông thiên văn dưới tường địa lí, không việc gì, vật gì mà không rõ, không hiểu. Vua cho đó là nhân tài bậc nhất của thiên hạ, phong chức quan Lễ Bộ Tả Thị Lang, ban cho xe ngựa, mũ áo về vinh quy bái tổ. Ngài về bái tại từ đường tiên tổ sau đó hồi triều nhậm chức.
Được hai năm, thăng làm Đô Đài Ngự Sử, hơn năm sau nhận mệnh vua lấy hiệu là Hàn Thiều nhậm chức Giao Châu Thứ Sử vào đời Đường Kinh Tống năm Bảo Lịch nguyên niên (825). Đến đời Đường Vũ Tông năm Hội Xương nguyên niên (841) Ngài được thăng làm An Nam Đô Hộ Kinh Lược Sứ thay cho người tiền nhiệm là Hàn Ước.
Khi ngài phụng chiếu đến Nam Việt tuần thú, kinh lí thiên hạ đã đến trang Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, Ngài vào làm lễ bái yết mộ tổ. Lại đi đến trang Khả Mộ, huyện Đường An, phủ Bình Giang thấy trang ấy sơn thủy hữu tình, long chầu hổ phục, tả sào, nội sào, năm con ngựa chầu đằng trước, bảy ngôi sao chiếu đằng sau, thần đồng đứng ở hai bên, bảng, bút bày sẵn thật là nơi phát tổ tiến sĩ. Ngài vẽ thành địa đồ, cắm đất.
Khi trị nhậm ngài chủ trương đắp La Thành kiên cố. Bèn sai tướng sĩ tiến hành công việc không kể ngày đêm, nhân khi quân lính ở phủ làm loạn, ngài phải bỏ phủ thành chạy về Quảng Châu. Giám quân Đoàn Sĩ Tắc tiếp quản mà vỗ yên loạn binh, phủ thành lại ổn định. Đến năm bính dần, niên hiệu Hội Xương năm thứ 6 (846) người Man Chiếu vào cướp phủ thành. Ngài lên một chiếc xe nhẹ, trở về Bắc Quốc xin lệnh vua. Vua Đường sai Bùi Nguyên Dụ làm Kinh Lược Sứ, xuất binh đánh bại người Man Nam Chiếu. Được một năm sau, vua xuống chiếu đảm đương nhiệm vụ quốc gia, nay muốn ngài về triều cùng nhau yến tiệc, thân tình, đàm thoại mưu kế. Ngài cho rằng: “Người xưa, dẫu được một ngày nuôi cha mẹ, dẫu làm quan tam công cũng không sướng bằng. Tôi nay còn có mẹ già, há nên ham muốn giàu sang mà không nghĩ đến sự hiếu dưỡng hay sao?” Ngài bèn dâng sớ xin từ quan, nộp lại thẻ bài về nhà phụng dưỡng mẹ già. Vua thuận tình ban cho tiền vàng, gấm vóc.
Vâng mệnh vua, ngài về nhà đón mẹ già sang sống tại Việt Nam, cho thiết lập một tòa lâu đài ở thượng khu trang Khả Mộ làm nơi phụng dưỡng mẹ già và khuyến bảo nhân dân chuyên làm điểu lợi, trừ việc hại. Dân đều có lễ nghĩa, nhà nhà giàu thịnh, đấy là công đức của ngài vậy. Nhân dân trong vùng đều chịu ơn và coi ngài như mặt trăng, mặt trời, thân thiết như cha mẹ.
Khi nhân dân làm lễ, nhân đó xin rằng: “Nay lâu đài làm chỗ ở, về sau làm mộ tự”. Ngài ưng thuận và khuyến bảo dân chúng rằng: “Trang khu có hậu thì phải trọng di mệnh của ta, vạn năm sau trang khu không quê thờ cúng”. Ngài còn cho thêm năm nén vàng, tậu ruộng ao làm viêc hậu cúng tế. Nhân dân ưng theo cho thôn sở tại trông đền và tế tự.
Khi ấy đức thánh mẫu già, bệnh đã lâu, thuốc không sẵn, cầu đảo bách thần không hiệu, đã mất. Ngài khóc than kêu trời đất rất thương xót, rước linh cữu lên táng tại trang Kiệt Đặc, huyện Thanh Lâm (nay là huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) dưới chân núi phượng hoàng. Từ đường hương khói được ba năm thì mãn tang, khi ấy ngài 49 tuổi. Vào ngày mùng 3 tháng 12 khi đang ngồi ở học đường, bỗng nhiên thấy trong người bất an, không bệnh mà mất. Táng tại xứ Đống Dị, đầu bản Trại. Bỗng nhiên trời đất tối sầm, mây mù che kín, một giờ lâu trời quang đã thấy kiến, mối đùn đắp đất thành một ngôi mộ lớn. Nhân dân và gia thần đều kinh hãi, lập tức mang chuyện đó trình lên quan huyện, huyện quan làm tờ sớ tâu vua. Vua bèn truy nguyên lúc bình nhật, sắc phong làm Phúc Thần, lại phong Đương cảnh thần hoàng, lâu đài cư sĩ, linh ứng đại vương.
Sắc chỉ cho Thượng Khu, trang Khả Mộ lên kinh thành rước mỹ tự về lập miếu phụng thờ, truyền cho khu cấm đại ấy gọi là Mả Thần, sở tại ức niên hương hỏa, kính vậy thay.
Lại nói rằng: từ ấy về sau vẫn thường linh ứng, các triều đại đế vương đều có sắc phong thêm mỹ tự cho Ngài.
Đời Trần Nhân Tông, quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta, kinh thành thất thủ, Trần Quốc Tuấn phụng mệnh vua, cầu đảo bách thần phù giúp. Đức Thần Tổ ta, hiển linh ngầm giúp. Khi bình được Ô Mã Nhi, Phàn, Tiếp, Vua bèn phong thêm mỹ tự cho Ngài “Một vị thần thông minh, trí sáng, mạnh gỏi, cao lớn, đáng thần bậc trên”.
Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa Lam Sơn, bình lũ Mộc Thạnh, Liễu Thăng ở Chi Lăng, 10 năm yên được thiên hạ, lại phong thêm mỹ tự cho Ngài “Giúp đời, yên dân, giúp rất thiêng, ứng lớn, ông thần bậc trên”.
Sắc ban cấp cho Thượng Khu, trang Khả Mộ trùng tu miếu vũ, thịnh vượng tốt đẹp thay.
Vâng khai ngày sinh, ngày hóa và chữ húy nhất thiết không được mạo dùng. Cho Thượng Khu, trang Khả Mộ lấy ngày sinh Thần mùng 8 tháng giêng làm chính lệ. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, ca xướng, đánh cờ, đu tiên. Các trò chơi chỉ chơi trong 10 ngày. Ngày hóa của Thần 13 tháng chạp lấy làm chính lệ, lễ dụng tùy nghi, ca xướng thì cấm.
avatar
admin
Admin

Tổng số bài gửi : 88
Join date : 02/08/2011
Age : 26
Đến từ : Yên Nhân - Yên Mô - Ninh Bình

Xem lý lịch thành viên http://vutocthonvinhloc.forumvi.com

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết